Hội chứng bệnh

CHỨNG NHIỆT ĐÀM

Chúng Nhiệt đàm còn gọi là chứBg Hỏa đầm, tên gọi chung cho những chứng trạng do đàm câu kết với nhiệt, đàm nhiệt úng tắc ồ Phế, hoặc là đàm hỏa quấy rổi Tâm gây nên bệnh. Chứng này do nhiệt tà hun đốt tân dịch mà sinh đàm, hoặc đàm uất sinh nhiệt, nhiệt với đàm cùng câu kết gây nên.

Biểu hiện lâm sàng chủ yếu của chứng Nhiệt đàm là đậm mầu vàng dính, hoặc đàm. trắng dạng keo khó bài tiết, khái thấu thở suyễn, phiền, nhiệt đau ngực, mịệng khô họng ráo hoặc sợ sêt mất ngủ-, hay cười vô cố hoặc hành động cuồng vọng, tiểu tiện sẻn đỏ, đại tiện táo , kết, mặt đỏ môi hồng, chất lưỡi đỏ, rôu lưỡi vàng nhớt, mạch Hoạt Sác. Chứng Nhiệt đàm thường gặp trong các bệnh Khái thấu, Háo Suyễn, Bất mị, Cuồng, Kết hung.

Cần chẩn đoán phân biệt vói các chứng Táo đàm, chứng Tâm hỏa cang thịnh và chứng Ôn bệnh ở huyết phận.

Chứng Nhiệt đàm xuất hiện trong các bệnh Khái thấu, háo, Suyễn, Cuồng, Bất mị và Kết hung, tuy đều biểu hiện chứng trạng cộng đồng như đàm với nhiệt câu kết, nhưng trong tật bệnh khác nhau nên cũng có đặc điểm không giống nhau..

Chứng Nhiệt đàm do nhiệt với đàm ngăn trở ở Phế có thể gây nên Khái thấu, Háo và Suyễn, ba bệnh này tuy cùng nguyên nhân bệnh và vị trí phát bệnh, cho nên có rất nhiều biểu hiện cộng đồng như đàm vàng dính, co thắt ngực, phiền nhiệt, khô miệng v.v. Chỗ khác nhau giữa ba bệnh này là: Khái thấu thì cổ đặc trưng khái thấu khí nghịch; Háo là một loại bệnh cđ từng cơn suyễn thở đàm khò khè, thường có bệnh sử từng cơn co thể theo dõi và ctí đặc trưng hô hấp gấp gáp, trong họng phát tiếng Hen, Suỵễn là do đàm nhiệt gây nên, phần nhiều là ngoại cảm, thường có chứng hậu ngoại cảm như ố hàn phát nhiệt và có đặc trưng là thở gấp gáp, phải há miệng so vai, cánh mũi phập phống v.v. Nhiệt đám khái thấu, điều trị nên thanh nhỉệt hda đàm, tuyên Phế chỉ khái, cho uống bài Thiêii kim vi hành thang (Bị căp Thiên kim yếu phương) gia vị. Nếu vỉ nhiệt đàm mà dẫn đến bệnh Hen, điều trị theo phép thanh nhiệt hóa đàm, tuyên Phế giáng nghịch, chọn dùng bài Định suyễn thang (NhiỂp sinh chúng diệu phương) gia giảm. Vi nhiệt đàm mà đẫn đến bệnh Suyễn, đifeu trị nên thanh nhiệt hóa đàm, tuyên Phế bình suyễn, cho uống bài Ma hạnh thạeh cam thang (Thương hàn luận) hoặc Tang bạch bì thang (Cảnh Nhạc toàn thư) gia gỉảm

Chứng Nhiệt đàm ctí thể gặp trong bệnh Bất mị, đặc trưng chủ yếu là sợ sệt mất ngủ, tâm phiền dễ sợ, ngực khổ chậu, buồn nôn, ợ hơi đày bụng, Tên lưõi vàng nhớt, mạch Hoạt Sác, cho uống bài Ôn đảm thang (Thiên kim phương) gia giảm.

Trong bệnh Cuồng xuất hiện chứng Nhiệt đàm, phần lớn ỉà do tình chí bất toại, Can khí uất kết, uất thì hóa hỏa nung đốt tân dịch thành đàm, đàm với nhiệt quấy rối thần minh gây nên. Dặc trưng chủ yếu là thần trí cuồng loạn, biểu hiện lâm sàng tính tình nóng nẩy hay giận, đau đầụ mất ngủ, cuồng loạn vô tri, hai mắt trợn trừng, chửi bới vổ luân, khí ỉực hung hãng, đánh người phá phách, chèo cao leo tường, chất lưỡi đỏ tía, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch Huyền Dại Hoạt Sác; Điều trị nên thanh Tâm quết đàm, trấn Tâm tả Can. cho ụống bài Sinh Thiết lạc ẩm (Y học tăm ngộ) gia giảm.

Chứng Nhiệt đàm cũng xuất hiện trong bệnh Kết hung, tà nhiệt ở Lý kểt hợp với Đàm ở vùng bụng ngực, tạo nên chứng Nhiệt đàm kết hung, biểu hiện lâm sàng chủ yếu là mình nóng mặt đỏ, phiền khát uống lạnh, uống nước vào thì mửa, ngực bụng bĩ đày, ấn vào đau, đại tiện bí kết, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch Huyền Sác; điều trị nên thanh nhiệt hóa đàm khai kết, chọn dùng bài Tiểu hãm hung gia Chỉ thực thang <Ôn bệnh điều biện).

ỏ người dương thịnh dễ mấc chứng Nhiệt đàm. Dương thịnh thì nhiệt, nhiệt thịnh nung nấu tân dịch thì sinh đàm, nhiệt câu kết với đàm, iàm nghẽn trở Phế và quấy rối Tâm sẽ biểu hiện hàng loat triệu chứng của chứng Đàm nhiệt.

Trong quá trình diễn biến chứng Nhiệt đàtn thường kiêm cả chứng Phế âm hư Tà nhiệt hun đốt tân dịch sinh đàm, làm thương âm hao dịch, có thể thấy kiêm chứng Phế âm hư. Phế âm hư là loại âm hư sinh nhiệt, cũng có thể hun đổt tâĩi dịch hóa sinh ra nhiệt đàm. Vi vậy, chứng nhiệt đàm thường tháy kiêtn Phế âm hư. Biểu hiện của Phế âm hư cd các chứng trạng ho khan đoản hơi, đờm ít mà dính, hoậc đờni vàng có lẫn huyết, miệng ráo họng khô, khàn tiếng, thể trạng gày còm, triều nhiệt mồ hôi trộm, ngũ tâm phiền nhiệt, về chiều gò má đỏ bừng, lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch Tế Sác.

Chứng Táo đàm với chứng Nhiệt đàin: Cả hãi chứng này đều có thê’ xuất hiện chứng trạng đờm dính thành keo khó khạc nhổ, miệng khô họng ráo, khái suyễn khí nghịch.

Chứng Táo đàm phần nhiều do cảm nhiễm táo tà, hoặc ở thời kỳ cuối của bệnh Nhiệt, hoặc thd tả, ra mồ hôi nhiều, mất máu nhiều làm tổn thương âm dịch, tân dịch táo kết ngưng trệ gây nên, đặc điểm của bệnh là ho khan ít đờm, lưỡi đỏ không rêu hoặc rêu lưỡi mỏng ít tân dịch, mạch Huyền Tế Sác.

Chứng Nhiệt đàm do ngoại tà vào lý hóa nhiệt, hoặc ăn quá nhiều đồ cay nóng sào rán thui nướng, nhiệt từ trong sinh ra, nhiệt hun đốt tân dịch, hun đốt thành đàm; Đàm với nhiệt câu kết, trở ngại Phế và phạm vào Tâm gậy nên, đặc điểm chứng trạng là đờm vàng dính, mặt hồng môi đỏ, phiền nhiệt ngực đau, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch Hoạt Sác.

Chứng Tâm hỏa cang thinh với chứng Nhiệt đàm, cả hai chứng đều cd thể có những chứng trạng miệng khô họng ráo, mặt hồng môi đỏ, tâm phiền mất ngủ, tiểu tiện sẻn đỏ, đại tiện Ịtáo kết, lưỡi đỏ rêu vàng, mạch Sác hoặc hay cười vô cớ hoặc cđ ý nghĩ ngông cuồng v.v. nhưng chứng Tâm hỏa cang thịnh là do tình chí bất toại, ngũ chí hóa hỏa hpặc là do lục khí bị uất mà hóa hỏa, hoặc ãn quá nhiều đồ cay nóng ôn bổ, tâm hỏa quâỵ động ở trong làm rối loạn thần minh gây nên bệnh. Biểu hiện lâm sàng ngoài những chứng trạng giống với, những Nhiệt đàm đã nói ở trên, còn có thể biểu hiện các chứng trạng khác như đàu lưỡi đỏ nứt đau; Nếu Tâm nhiệt chuyên xuống Tiểu trường thì có chứng tiểu tiện đỏ rít đau buốt hoặc tiểu tiện ra huyết. Chứng Nhiệt đàm thì có kiêm các chứng trạng đàm vàng dính, hoặc đàm tráng như keo khd khạc nhổ, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch Hoạt và Sác.

Chứng Ôn bệnh ở huyết phần với chứng Nhiệt đàm đều cd thể xuất hiện các chứng trạng phiền táo không yên, thậm chí thần trí thất thường có chiều cuồng vọng, cho nên cần phân biệt trong lâm sàng.

Chứng Ôn bệnh ở huyết phần là ngoại tà từ biểu vảo lý, truyền vào huyết phận gây nên bệnh, ngoài chửng sốt cao, thường có cả chứng trạng phát ban hoặc xuất huyết, chất lưai tía xẫm, mạch Tế Sác. Còn g&y nén chứng Nhiệt đăm là thần trí cuống vọng, lưei 4Ỗ rêu vàng nhớt, mạch phần nhiều Hoạt Sác, khống có chứng xuất huyết mà lại có đặc điềía là khạc ra đờm vàng dính.

Chứng Nhiệt đàm, là nổi nước uổng vào tích động ỉại mà thành. Nói Âm Dương ngàn cách, Thượng tiêu sinh nhiệt; Nhiệt với đàm thủy cùng chọi nhau, tụ ỉại mà khồng tan cho nén người bệnh cổ sốt nhẹ, ảnh hưởng tới ăn uđng, đầu mặt nóng bừng cho nên gọi là Nhiệt đàm (Đàm ám bệnh chư hậu – Chư bệnh nguyên hậu luận).

Bệnh d T&m kinh gọi lả Nhiệt đàm, mạch Hồng mặt đỏ, phiền nhiệt đau vùng. Tim, miệng khố mổi rảo, nhiều lức cười vổ cớ, đàm kết rấn chác thành hòn cục, cho uổng các bài Tiểu hoàng hoàn, Dại hoàng thang (Đàm ám – Ý tồn tát dộc).

Xem tiếp >>

Về Cẩm Nang Thuốc Đông Y

Cẩm Nang Chia Sẻ Đông Y - Luôn muốn cập nhật các kiến thức về Đông Y mới nhất, hữu ích nhất đến tất cả mọi người. Phòng và Trị bệnh từ Đông Y sẽ bền hơn và có sức khỏe tốt hơn rất nhiều. Hãy cùng có một cuộc sống xanh, sống khỏe.
Xem tất cả các bài viết của Cẩm Nang Thuốc Đông Y →

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *